Thương mại và công nghiệp qua các chỉ số
Trình chiếu này lần lượt hiển thị năm chỉ số về thương mại và công nghiệp của Ngân hàng Thế giới. Mỗi khung gồm biểu đồ cột xếp hạng các quốc gia, giá trị và thứ hạng của Việt Nam, cùng đường biểu diễn thay đổi qua các năm. Tất cả số liệu lấy từ World Development Indicators.
| Exports of goods and services | 12 | Xuất khẩu của Việt Nam đạt 90,1542% GDP, hạng 12 trên 192 quốc gia |
| Imports of goods and services | 21 | Nhập khẩu của Việt Nam ở mức 83,7078% GDP, hạng 21 trên 192 quốc gia |
| Manufacturing value added | 11 | Chế biến chế tạo chiếm 24,4304% GDP Việt Nam, hạng 11 trên 203 quốc gia |
| Foreign direct investment, net inflows | 22 | Vốn FDI ròng chảy vào Việt Nam khoảng 20,17 tỷ USD, hạng 22 trên 204 quốc gia |
| High-technology exports | 11 | Hàng công nghệ cao chiếm 44,2569% xuất khẩu hàng chế tạo, hạng 11 trên 186 quốc gia |
Hãy đọc từng khung riêng: cột màu nổi bật là Việt Nam, và đường xu hướng cho thấy hướng thay đổi theo năm. Không so sánh giữa các khung với nhau, vì đơn vị khác nhau (phần trăm GDP, phần trăm hàng chế tạo, đô la Mỹ) và số quốc gia được xếp hạng cũng khác nhau (186 đến 204).
Điểm chính
Trong chủ đề thương mại và công nghiệp, Việt Nam đứng ở nhóm dẫn đầu thế giới ở hầu hết các chỉ số được so sánh. Đáng chú ý nhất là tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đạt 90,1542% GDP năm 2024, xếp hạng 12 trong 192 quốc gia, cao hơn giá trị thế giới 29,1076% khoảng 61 điểm phần trăm. Giá trị gia tăng ngành chế biến chế tạo chiếm 24,4304% GDP, hạng 11 trong 203 quốc gia, so với mức thế giới 14,9944%. Tỷ trọng hàng công nghệ cao trong xuất khẩu hàng chế tạo là 44,2569% (hạng 11 trong 186 quốc gia), trên mức thế giới 24,7589% — nghĩa là cả độ mở thương mại lẫn quy mô sản xuất đều nằm ở nhóm trên, chứ không lệch về một phía.
*Nguồn: World Bank, World Development Indicators (NE.EXP.GNFS.ZS, NV.IND.MANF.ZS, TX.VAL.TECH.MF.ZS).*
Giá trị mới nhất của chỉ số trung tâm
Chỉ số đứng đầu bảng là xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tính theo tỷ lệ phần trăm GDP. Năm 2024, con số của Việt Nam là 90,1542%, xếp hạng 12 trên tổng số 192 quốc gia có dữ liệu. Giá trị thế giới cùng năm là 29,1076%, tức tỷ lệ của Việt Nam cao hơn khoảng 61,0 điểm phần trăm. Vị trí thứ 12 đồng nghĩa chỉ có 11 nền kinh tế trong tập so sánh có tỷ lệ cao hơn. Cần lưu ý đây là tỷ lệ so với GDP, không phải kim ngạch tuyệt đối, nên nó mô tả mức độ gắn kết của nền kinh tế với bên ngoài chứ không phải quy mô xuất khẩu.
*Nguồn: World Bank, World Development Indicators (NE.EXP.GNFS.ZS).*
Nhóm dẫn đầu và nhóm cuối bảng
Ở tỷ trọng xuất khẩu trên GDP, dẫn đầu là Luxembourg 191,533%, San Marino 185,9928%, Hồng Kông 181,7913%, Singapore 178,7763% và Ireland 143,9846%. Tiếp theo có Djibouti 126,4153%, Malta 118,4861%, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất 106,8461%, Quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ 97,3673%, Síp 97,0202% và Macao 92,1896% — Việt Nam đứng ngay sau với 90,1542%. Nhóm này phần lớn là các nền kinh tế quy mô nhỏ, trung tâm trung chuyển hoặc tài chính, nhiều nơi vượt mốc 100%.
Ở đầu kia của bảng là Sudan 0,7209%, Haiti 3,4008%, Ethiopia 5,5393%, Kiribati 5,9202%, Syria 6,8101% và Nepal 7,6219%, cùng Guam 7,8871%, Gambia 8,7488%, Yemen 8,7561%, Nigeria 9,2415%, Vanuatu 9,4255% và Comoros 9,9115%. Đây thường là các nền kinh tế dựa vào nhu cầu nội địa hoặc đang gặp bất ổn. Việt Nam nằm hẳn về phía nhóm trên, dù cấu trúc kinh tế khác với các trung tâm trung chuyển đứng đầu nên không nên đặt chung một thước đo hơn kém.
*Nguồn: World Bank, World Development Indicators (NE.EXP.GNFS.ZS).*
Mười năm qua đã thay đổi ra sao
Tỷ trọng xuất khẩu trên GDP của Việt Nam đi từ 66,8004% năm 2013 lên 90,1542% năm 2024, tăng khoảng 23,4 điểm phần trăm trong 12 năm, với mức cao nhất giai đoạn là 93,8502% năm 2021 và 93,4201% năm 2022, sau đó lùi về 86,4674% năm 2023 rồi tăng trở lại. Nhập khẩu đi theo hình dạng tương tự: 64,0459% năm 2013, đỉnh 92,8256% năm 2021, còn 78,3507% năm 2023 và 83,7078% năm 2024.
Giá trị gia tăng chế biến chế tạo tăng đều hơn, từ 20,6875% năm 2013 lên 24,7772% năm 2022 rồi 24,4304% năm 2024. Tỷ trọng hàng công nghệ cao trong xuất khẩu hàng chế tạo tăng từ 27,163% năm 2012 lên 44,2569% năm 2023. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng chảy vào tăng từ khoảng 8,9 tỷ USD năm 2013 lên khoảng 20,17 tỷ USD năm 2024. Dữ liệu ở đây không cho biết nguyên nhân của các mức tăng giảm này.
*Nguồn: World Bank, World Development Indicators (NE.EXP.GNFS.ZS, NE.IMP.GNFS.ZS, NV.IND.MANF.ZS, TX.VAL.TECH.MF.ZS, BX.KLT.DINV.CD.WD).*
So với các nước gần gũi
Ở tỷ trọng xuất khẩu trên GDP, Việt Nam 90,1542% (hạng 12) cao hơn hẳn Hàn Quốc 44,3582% (hạng 68), Đức 41,4341% (hạng 84), Pháp 33,8898%, Vương quốc Anh 30,9842%, Nhật Bản 22,769% (hạng 141), Trung Quốc 20,0229% (hạng 151) và Mỹ 11,1075% (hạng 177) — khoảng gấp đôi Hàn Quốc và gấp hơn bốn lần Trung Quốc. Về nhập khẩu, Việt Nam 83,7078% (hạng 21) so với Hàn Quốc 40,2843%, Đức 37,6567%, Nhật Bản 23,638% và Trung Quốc 17,1755%.
Ở chế biến chế tạo, Việt Nam 24,4304% (hạng 11) đứng gần Trung Quốc 24,8692% (hạng 9), Thái Lan 24,3303% (hạng 12) và Campuchia 27,8058% (hạng 6), dưới Hàn Quốc 26,618% (hạng 7), nhưng trên Nhật Bản 20,581%, Đức 18,0067%, Mỹ 10,7104%, Pháp 9,5665% và Vương quốc Anh 7,985%. Ở hàng công nghệ cao, Việt Nam 44,2569% xếp trên Hàn Quốc 36,2583%, Vương quốc Anh 29,2333%, Trung Quốc 26,2777%, Mỹ 24,323%, Pháp 23,1371%, Đức 17,9773% và Nhật Bản 17,5547%, nhưng dưới Philippines 60,9753%, Singapore 59,4298% và Malaysia 58,6277% trong khu vực. Về FDI ròng chảy vào, Việt Nam khoảng 20,17 tỷ USD (hạng 22) đứng trên Trung Quốc khoảng 18,56 tỷ USD, Nhật Bản khoảng 16,16 tỷ USD và Hàn Quốc khoảng 12,86 tỷ USD, nhưng thấp hơn nhiều so với Mỹ khoảng 297,06 tỷ USD, Singapore khoảng 135,08 tỷ USD và Hồng Kông khoảng 125,82 tỷ USD.
*Nguồn: World Bank, World Development Indicators (NE.EXP.GNFS.ZS, NE.IMP.GNFS.ZS, NV.IND.MANF.ZS, TX.VAL.TECH.MF.ZS, BX.KLT.DINV.CD.WD).*
Cách đọc những con số này
Xuất khẩu, nhập khẩu và chế biến chế tạo ở đây đều tính theo tỷ lệ phần trăm GDP. Nước có GDP lớn thường cho tỷ lệ thấp hơn, nên tỷ lệ này khác với kim ngạch tuyệt đối và không nên đọc như thước đo năng lực cạnh tranh. Ở các nền kinh tế trung chuyển, hàng hóa đi qua rồi tái xuất khiến tỷ lệ xuất khẩu có thể vượt 100% GDP, như Luxembourg 191,533% hay Hồng Kông 181,7913%.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là dòng chảy vào ròng tính bằng đô la Mỹ theo cán cân thanh toán, nên có thể mang dấu âm khi rút vốn vượt vốn vào — trong bảng có Thụy Sĩ khoảng -108,40 tỷ USD, Liechtenstein khoảng -87,21 tỷ USD, Hungary khoảng -62,19 tỷ USD và Vương quốc Anh khoảng -12,96 tỷ USD. Giá trị âm không có nghĩa là không có đầu tư. Dòng vốn dao động mạnh theo từng năm, nên biến động của một năm chưa đủ để nói về xu hướng.
Tỷ trọng hàng công nghệ cao là phần trong xuất khẩu hàng chế tạo, phản ánh cơ cấu mặt hàng chứ không trực tiếp đo trình độ công nghệ. Số quốc gia được xếp hạng khác nhau giữa các chỉ số — 192, 203, 204 và 186 — nên không so sánh thứ hạng của chỉ số này với thứ hạng của chỉ số khác. Ngoài ra, chỉ số công nghệ cao có chuỗi số liệu dừng ở năm 2023 dù các chỉ số khác cập nhật đến 2024. Toàn bộ số liệu lấy từ World Development Indicators của Ngân hàng Thế giới, cập nhật theo năm và có thể được điều chỉnh hồi tố.
*Nguồn: World Bank, World Development Indicators (NE.EXP.GNFS.ZS, NE.IMP.GNFS.ZS, NV.IND.MANF.ZS, TX.VAL.TECH.MF.ZS, BX.KLT.DINV.CD.WD).*
Exports of goods and services trên bản đồ và biểu đồ
Đầu bảng là Luxembourg 191,533%, San Marino 185,9928% và Hồng Kông 181,7913%; cuối bảng là Sudan 0,7209% và Haiti 3,4008%. Việt Nam ở hạng 12, ngay sau Macao 92,1896%.
Đường xu hướng đi từ 66,8004% năm 2013 lên đỉnh 93,8502% năm 2021, lùi về 86,4674% năm 2023 rồi lên 90,1542%. Khoảng cách giữa hai đầu bảng rất rộng, từ dưới 1% tới trên 190%.
So sánh các quốc gia
Imports of goods and services
| Hạng | Quốc gia / vùng | % |
|---|---|---|
| 1 | Hồng Kông | 177.72 |
| 2 | Luxembourg | 159.74 |
| 3 | San Marino | 154.99 |
| 4 | Singapore | 143.6 |
| 5 | Djibouti | 114.82 |
| 19 | Timor-Leste | 84.89 |
| 20 | Kyrgyzstan | 84.21 |
| 21 | Việt Nam | 83.71 |
| 22 | Cuba | 82.39 |
| 23 | Quần đảo Marshall | 81.74 |
| 190 | Turkmenistan | 11.16 |
| 191 | Venezuela | 9.22 |
| 192 | Sudan | 1.27 |
Dẫn đầu là Hồng Kông 177,7154%, Luxembourg 159,735% và San Marino 154,9906%; cuối bảng có Sudan 1,2745% và Venezuela 9,2213%. Việt Nam hạng 21, trên Hàn Quốc 40,2843% và Đức 37,6567%.
Từ 64,0459% năm 2013, đường biểu diễn lên đỉnh 92,8256% năm 2021, xuống 78,3507% năm 2023 rồi lên lại. Nhiều nền kinh tế lớn như Mỹ 14,2712% và Trung Quốc 17,1755% nằm ở nhóm cuối bảng.
Manufacturing value added
| Hạng | Quốc gia / vùng | % |
|---|---|---|
| 1 | Puerto Rico | 44.14 |
| 2 | Liechtenstein | 34.17 |
| 3 | San Marino | 31.77 |
| 4 | Ireland | 29.57 |
| 5 | Eswatini | 29.12 |
| 9 | Trung Quốc | 24.87 |
| 10 | Guinea Xích Đạo | 24.81 |
| 11 | Việt Nam | 24.43 |
| 12 | Thái Lan | 24.33 |
| 13 | Myanmar (Miến Điện) | 22.52 |
| 201 | Micronesia | 0.51 |
| 202 | Quần đảo Turks và Caicos | 0.45 |
| 203 | Bermuda | 0.33 |
Đầu bảng gồm Puerto Rico 44,1443%, Liechtenstein 34,1726% và San Marino 31,7668%; cuối bảng là Bermuda 0,3311% và Quần đảo Turks và Caicos 0,447%. Việt Nam hạng 11, giữa Guinea Xích Đạo 24,8129% và Thái Lan 24,3303%.
Đường xu hướng tăng khá đều, từ 20,6875% năm 2013 lên 24,7772% năm 2022 và 24,4304% năm 2024. Nhóm láng giềng khá sát nhau, trong khi Anh 7,985% và Mỹ 10,7104% thấp hơn nhiều.
Foreign direct investment, net inflows
| Hạng | Quốc gia / vùng | US$ |
|---|---|---|
| 1 | Mỹ | 297,058,000,000 |
| 2 | Singapore | 135,077,157,183 |
| 3 | Hồng Kông | 125,820,976,920 |
| 4 | Luxembourg | 105,986,643,430 |
| 5 | Brazil | 74,090,786,050 |
| 20 | Ả Rập Xê-út | 21,337,562,070 |
| 21 | Ba Lan | 20,606,000,000 |
| 22 | Việt Nam | 20,170,000,000 |
| 23 | Trung Quốc | 18,556,141,173 |
| 24 | Đan Mạch | 18,240,080,341 |
| 202 | Hungary | -62,190,710,104 |
| 203 | Liechtenstein | -87,212,093,508 |
| 204 | Thụy Sĩ | -108,395,568,634 |
Dẫn đầu là Mỹ khoảng 297,06 tỷ USD, Singapore khoảng 135,08 tỷ USD và Hồng Kông khoảng 125,82 tỷ USD; cuối bảng mang dấu âm, như Thụy Sĩ khoảng -108,40 tỷ USD. Việt Nam hạng 22, trên Trung Quốc khoảng 18,56 tỷ USD.
Đường biểu diễn đi từ khoảng 8,9 tỷ USD năm 2013 lên khoảng 20,17 tỷ USD năm 2024. Khoảng cách giữa các nước rất lớn và giá trị âm chỉ là rút vốn vượt vốn vào, không phải thiếu đầu tư.
High-technology exports
| Hạng | Quốc gia / vùng | % |
|---|---|---|
| 1 | Quần đảo Cayman | 85.52 |
| 2 | Samoa | 76.67 |
| 3 | Hồng Kông | 75.57 |
| 4 | Philippines | 60.98 |
| 5 | Singapore | 59.43 |
| 9 | Palau | 51.68 |
| 10 | Malta | 45.18 |
| 11 | Việt Nam | 44.26 |
| 12 | Kazakhstan | 42.2 |
| 13 | Israel | 37.23 |
| 184 | Antigua và Barbuda | 0 |
| 185 | Bahamas | 0 |
| 186 | Macao | 0 |
Đầu bảng có Quần đảo Cayman 85,5232%, Samoa 76,6701% và Hồng Kông 75,5707%; cuối bảng gồm Macao và Bahamas ở mức 0%. Việt Nam hạng 11, dưới Malta 45,1792% và trên Kazakhstan 42,1953%.
Chuỗi số liệu đi từ 27,163% năm 2012 lên 44,2569% năm 2023, tăng gần như liên tục. Trong khu vực, Philippines 60,9753% và Malaysia 58,6277% còn cao hơn, còn Nhật Bản 17,5547% thấp hơn đáng kể.